BOSTON VÀ NHỮNG ĐIỀU KỲ THÚ

 
Sau khi kết thúc chặng bay từ sân bay Tân Sơn Nhất (TP. Hồ Chí Minh) quá cảnh tại sân bay Bắc Kinh (Trung Quốc) theo lịch trình của Vietravel, tôi đến Los Angeles và mất sáu giờ bay từ sân bay Los Angeles, tôi đặt chân đến nước Mỹ và đến thành phố Boston, bang Massachusetts.
Những ngày ở Boston, tôi đã đi thăm một số nơi như: thư viện thành phố Boston (the Boston Public Library), Public Garden, Park St, Christopher Columbus Park… nhưng ba điểm dưới đây ở Boston đã cho tôi nhiều cảm xúc:
Đại học Harvard
Boston nổi tiếng với Đại học Harvard. Đây là một viện đại học nghiên cứu tư thục, thành viên của Liên đoàn Ivy, Cambridge, Massachusetts, Hoa Kỳ. Được thành lập năm 1636 (cách đây trên 380 năm) bởi Cơ quan Lập pháp Thuộc địa Vịnh Massachusetts. Sau này được đặt theo tên của John Harvard, người đã hiến tặng của cải cho trường. Đến thế kỷ XIX, Harvard nổi lên như một cơ sở văn hóa chủ chốt của giới tinh hoa vùng Boston. Viện đại học Harvard được tổ chức thành 11 đơn vị học thuật – 10 phân khoa đại học và Viện nghiên cứu cao cấp Raddiffe - với khuôn viên chính rộng 209 mẫu anh (85 ha) ở thành phố Cambridge, cách Boston chừng 3 dặm (4,8 km) về phía Tây bắc; còn trường kinh doanh và các cơ sở thể thao (sân vận động Harvard) nằm bên kia sông Charles ở khu Allston (Boston); trường Y khoa, Nha khoa, Y tế công cộng thì nằm ở khu Y khoa Longwood. Trong số các tổng thống Hoa Kỳ có 8 người là cựu sinh viên Harvard; khoảng 150 người được trao giải Nobel là sinh viên, giảng viên hay nhân viên của Viện đại học này. Ngoài ra có 62 tỷ phú, 335 học giả Rhodes, là cựu sinh viên Harvard.
Thư viện Viện đại học Harvard lớn nhất Hoa Kỳ và là một trong các thư viện lớn nhất thế giới, với hơn 80 thư viện riêng lẻ chứa hơn 15 triệu tài liệu. Bộ sưu tập tài liệu ngôn ngữ Đông Á lớn nhất (bên ngoài Đông Á) được lưu trữ tại thư viện Harvard - Yenching.
Harvard còn có một số Viện bảo tàng nghệ thuật văn hóa và khoa học. Bảo tàng nghệ thuật có ba viện: Viện Bảo tàng Arthur M. Sackler có các bộ sưu tập nghệ thuật cổ châu Á, Hồi giáo, và Ấn Độ thời kỳ sau; Viện Bảo tàng Busch-Reisinger trưng bày nghệ thuật Trung Âu và Bắc Âu; còn Viện Bảo tàng Fogg thì trưng bày nghệ thuật Tây phương từ thời Trung cổ đến thời hiện đại, trong đó nổi bật là nghệ thuật Ý thời kỳ đầu Phục hưng, nghệ thuật Anh thời tiền-Raphael, nghệ thuật Pháp thế kỷ XIX. Viện Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên gồm Viện Bảo tàng Khoáng chất, Viện Bảo tàng Thực vật, và Viện Bảo tàng Động vật Đối chiếu. Ngoài ra, còn có Trung tâm Nghệ thuật Thị giác Carpenter, Viện Bảo tàng Khảo cổ và Nhân học Peabody chuyên về lịch sử văn hóa và văn minh Tây Bán cầu, và Viện Bảo tàng Semitic trưng bày các hiện vật khai quật được ở Trung Đông.
Năm 2007, tờ US New & World Report xếp Harvard đầu bảng “các viện đại học trong nước”. Tuy nhiên, Harvard cũng bị chỉ trích và phê phán về tình trạng “lạm phát điểm số”. Cựu viện trưởng Viện đại học Harvard là Larry Summer nhận xét “Tôi nghĩ vấn đề quan trọng duy nhất là mối quan hệ giữa ban giảng huấn và sinh viên, chúng ta để quá nhiều sinh viên cao học tham gia giảng dạy các lớp học quá đông đến nỗi giảng viên không biết hết tên sinh viên. Ít người có cơ hội trải nghiệm phương pháp tích cực như vào phòng thí nghiệm, thảo luận trong lớp, đối thoại tại các hội nghị chuyên đề, hoặc làm việc theo nhóm trong văn khố”.
Điều đáng ngạc nhiên là trường đại học Harvard – một ngôi trường nổi tiếng trên thế giới trong top Ivy League của nước Mỹ và phương châm của trường là Verites - Chân lý. Nhưng có ba điểm gây ra hiểu lầm cho mọi người xung quanh một bức tượng được đặt tại Harvard Yard - khuôn viên đại học Harvard. Dưới chân bức tượng này ghi là nhà sáng lập trường, John Harvard, năm 1638. Bức tượng này được nhiều du khách và sinh viên chụp ảnh và thoa bàn chân bức tượng để lấy may mắn cho các kỳ thi.

(Ảnh tác giả với bức tượng)
Thật ra, như đã nói ở trên, mục sư John Harvard chỉ là người đóng góp rất lớn cho thời kỳ xây dựng trường và ban đầu trường mang tên là trường New College, năm 1639 được đổi tên thành Harvard College. “Người” sáng lập ra trường là những lá phiếu của cơ quan lập pháp vùng thuộc địa Vịnh Massachusetts (Tòa án tối cao Vịnh Massachusetts thuộc đế quốc Anh) vào năm 1636. Một điểm thú vị nữa, bức tượng đề tên là John Harvard nhưng thật ra không phải là ông. Năm 1884, do quá ít tư liệu về nhân vật lịch sử John Harvard đã mất gần 250 năm, nên Daniel Chester French buộc phải sử dụng sinh viên Sherman Hoar (sau này Sherman Hoar có tham gia Nghị viện Mỹ và trở thành công tố viên) làm mẫu để tạo ra bức tượng John Harvard nổi tiếng này.
Nhà thờ chúa ba ngôi Trinity
Nhà thờ Trinity nằm ở Back Bay, Boston là một xứ đạo thuộc giáo phận Massachusetts. Giáo đoàn hiện nay khoảng 4.000 hộ, được thành lập vào năm 1733. Về phương diện lịch sử, nhà thờ được xem là một giáo xứ Broad Church (chủ trương tự do lý giải giáo lý trong giáo hội Anh). Nhà thờ được xây dựng trước đây tại Summer Street bị cháy trong cơn hỏa hoạn lớn nhất Boston năm 1872 (Great Boston Fire of 1872). Do đó, mục sư Phillips Brooks (1835-1893), một trong những nhà thuyết giáo uy tín và nổi tiếng nhất trong thời của ông yêu cầu xây dựng khu phức hợp nhà thờ mới. Nhà thờ và nhà giáo họ được phác thảo bởi Henry Hobson Richarson và hoàn thành xây dựng từ năm 1872-1877. Khu phức hợp được đặt tại quảng trường Copley ở Back Bay.
Nhà thờ Trinity theo phong cách kiến trúc Roman (vòm tròn, tường dày… thịnh hành ở châu Âu thế kỷ XI-XII) của Richarson. Đặc trung phong cách kiến trúc Roman của Henry Hobson Richarson đối với nhà thờ này là mái đất sét, đồ gốm cổ, đá nhám, vòm chắc nịch và tháp to lớn. Bên trong nhà thờ, những bức bích họa chiếm trên 21.500 feet (khoảng 2.000 m2) được hoàn thành bởi những nghệ nhân Richardson với Brooks và sự giúp đỡ của John La Farge (1835-1910). La Farge chưa bao giờ thực hiện những việc như thế này, nhưng ông nhận thấy ngay sự quan trọng của nó và kết quả là, nó đã làm rạng danh La Farge.
Về cửa sổ nhà thờ, nguyên thủy là kính trong suốt vào năm 1877. Bốn cửa sổ được Edward Burne-Jones thiết kế và được William Moris thực hiện. Bốn cửa sổ khác được John La Farge thực hiện, và có sự thay đổi bằng lớp kính trắng sữa. Cửa ra vào chính đồ sộ của nhà thờ Trinity thì L.C. Norton là người đầu tiên nghĩ ra việc khi đóng cửa phải thật yên tĩnh ngăn được tiếng động ầm ầm. Sự thành công của ông được biết đến suốt từ năm 1880 đến 1910 và ông được công nhận bằng sáng chế cho điều đó.
Nhà thờ Trinity là nhà thờ duy nhất ở Mỹ và là tòa nhà duy nhất ở Boston được danh dự là một trong “mười toà nhà quan trọng nhất ở Mỹ” do American Institute of Architects (AIA) chọn. Tòa nhà đã được đề cử National Historic Lanmark vào ngày 30/12/1970.
 
(Ảnh tác giả trước nhà thờ)
Có những điểm thú vị của nhà thờ này là: (1) Trinity được xây dựng với 4.500 mảnh gỗ, mỗi cái khoảng 30 feet (đơn vị đo chiều dài Anh bằng 0,3048 m) được trám đầy sỏi, bùn và đất sét, và luôn ẩm bởi nước bình nguyên Back Bay, như là chúng sẽ bị thối rửa nếu để phơi ra trước không khí. (2) Nhà thờ Trinity nằm kế bên tòa nhà John Hancock. Nét độc đáo là tòa nhà này được phủ kính toàn bộ, nên nó in bóng nhà thờ lên trên bề mặt kính của tòa nhà. Điều này cuốn hút du khách đến chiêm ngưỡng và để có một tấm ảnh kỷ niệm với nhà thờ trên mặt đất và nhà thờ trên mặt kính tòa nhà John Hancock. (3) Đá dùng để xây dựng là đá granite Dedham (Dedham: thị trấn miền đông Massachusetts, ven bờ nam sông Charles, phía Tây Nam Boston, hoàn thành năm 1635).

(Ảnh của nhà thờ “thực” và ảnh của nhà thờ trên tòa nhà kính)
Vòng quanh thành phố bằng Duck Boat
Theo Washington Post, thuyền vịt, nguyên thủy là một phương tiện di chuyển của quân đội, có thể di chuyển quân lính lẫn vũ khí, thiết bị quân sự từ tàu đổ bộ đậu ngoài khơi vào đất liền, được hãng GMC thiết kế chiếc Duck đầu tiên vào năm 1942. Đây là một loại phương tiện vừa có thể chạy trên bờ như xe, vừa có thể đi dưới nước như thuyền bè.
Lúc đầu, phương tiện này có tên gọi là Dukw, viết tắt của từ D: ký hiệu năm sản xuất 1942; U (Utility): khả năng đi cả trên bờ lẫn dưới nước; K là ký hiệu của dẫn động bằng bánh trước; và W là ký hiệu của dẫn động bằng hai trục bánh sau. Sau đó, các binh sĩ đã đổi tên lại thành Duck, chỉ con vịt, con vật có khả năng đi trên bờ và lội dưới nước.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc, Melvin Flath - một nhà kinh doanh trong lĩnh vực xe tải ở Milwaukee, bang Wisconsin đọc báo thấy thông báo có một lô xe tải dư thừa bán đấu giá ở California. Khi đến nơi, Melvin mới biết chỉ bán những chiếc Duck và ông quyết định mua một chiếc. Hai tuần sau, Melvin chở gia đình trên chiếc Duck thăm bạn bè, hàng xóm ở Milwaukee. Dù bị chế nhạo, nhưng Melvin lại nảy sinh ý tưởng mới: lắp thêm trên chiếc Duck một số ghế lấy từ những chiếc bus cũ rồi đem chiếc Duck ra hồ Michigan. Ông nhận ra: Duck là một công cụ hái ra tiền! Sau đó, Melvin đưa Duck ra Pewaukee và thu mỗi hành khách 50 cent. Mọi người đã hét lên sung sướng khi Duck chạm mặt hồ, bắn nước tung tóe. Thế là tour du lịch Wisconsin Dells Duck đầu tiên bắt đầu từ năm 1946.
Đền nay, qua hơn 70 năm, tour du lịch bằng Duck Boat này phổ biến ở nhiều thành phố có sông hồ tại Mỹ như: Wisconsin Dells, Seattle, Boston, Arkensas… Riêng tour vòng quanh thành phố Boston sẽ qua những địa danh nổi tiếng như tòa tháp Prudential, nhà thờ Christian Science, nhà thờ Arlington, State House, hoặc Place Copley, quảng trường Old Scollay, Boston Common, Esplanade hoặc đài tưởng niệm Robert Gould Shaw, cầu Zakim Bunker Hill, Thủy cung New England, cảng Long Wharf, công viên Wharf… Tôi cũng đã ngồi trên chiếc Duck Boat này với giá là 44 dollars/một người và được trải nghiệm một cách lý thú khi xe chạy trên đường phố và khi “thuyền” lội nước dưới hồ. Cảm giác của tôi cũng không khác gì với những hành khách trên chiếc Duck Boat khi nó chạm mặt hồ cách đây 73 năm.

(Ảnh tác giả trước thuyền vịt)
Tuy nhiên, có một số tai nạn liên quan đến thuyền vịt đã xảy ra như: thuyền chìm ở Hồ, thuyền vịt đụng vào xe bus, thuyền vịt bị sà-lan va… và gần đây nhất là vào ngày 19/7/2018, Duck Boat bị lật và chìm xuống hồ Table Rock Lake, gần thành phố Branson, bang Missouri. Điều này, đang đòi hỏi cần xem xét lại tính an toàn của những chiếc Duck Boat.
 
                                                                     Nguyễn Sơn Hùng
                                                                      (tháng 5-8/2019)
 
 
(*) Các nguồn tham khảo:
- m.kenh14.vn
- kienviet.net
- ins.cuocsongomy.com
 

 
[*] John Harvard sinh ngày 26/11/1607, mất ngày 14/9/1638 , chào đời và lớn lên ở Southwark, Anh quốc, là con thứ tư trong gia đình có chín người con của Robert Harvard và bà Katherin Roges Harvard. Trước khi qua đời, thừa hưởng tài sản khá lớn từ cha mẹ và anh trai, Harvard đã hiến tặng một nửa tài sản của ông - phần còn lại dành cho người vợ, là 780 bảng Anh và gần 400 đầu sách cho trường.